Thoát Vị Đĩa Đệm – Nguyên Nhân, Triệu Chứng Là Gì? Bạn Biết Chưa

0
65
thoát vị đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệm đôi khi được gọi là trượt đĩa đệm hoặc vỡ đĩa đệm là trường hợp khi một mảnh nhân đĩa đệm bị đẩy ra khỏi vòng đệm, vào ống sống qua một vết rách hoặc vỡ ở nhân đĩa đệm. 

1. Chức năng của đĩa đệm

Đĩa đệm là các lớp đệm ngăn cách giữa các xương – đốt sống. Chúng có hình tròn và có vai trò như chiếc gối nhỏ, với một lớp cứng bên ngoài bao quanh nhân. Các đĩa đệm nằm xen kẻ nhau mỗi một đốt sống có 1 đĩa đệm chúng đóng vai trò giảm xóc cho xương cột sống.

thoát vị đĩa đệm
Đĩa đệm bình thường và đĩa đệm thoát vị

Ở giai đoạn đầu của quá trính thoái hóa, các ống đốt sống thu bị thu hẹp không gian dẫn đến không đủ không gian cho thần kinh cột sống. Thêm vào đó,  mảnh đĩa đệm bị thoát vị di lệch so với ban đầu. Do sự dịch chuyển này, đĩa đệm chèn ép lên các dây thần kinh cột sống, thường gây ra các cơn đau, nheiuef cơn đau dữ dội.

Ở bất kỳ phần nào của cột sống cũng có thể bị Thoát vị đĩa đệm. Nhưng vị trí thường hay gặp phải là ở phần lưng dưới – cột sống thắt lưng và ở cổ – cột sống cổ.

2. Nguyên nhân

Việc bị chấn thương hoặc xương căng quá mức sẽ gây ra thoát vị đĩa đệm. Tuy nhiên, đĩa đệm cũng bị thoái hóa tự nhiên khi có tuổi và các dây chằng – giữ vững các đốt sống và đĩa đệm, bắt đầu yếu đi. Khi quá trình thoái hóa diễn ra, một cử động căng hoặc vặn tương đối nhỏ cũng có thể khiến đĩa đệm bị vỡ.

Một số người có thể dễ gặp các vấn đề về đĩa đệm hơn và thậm chí có thể dẫn đến thoát vị đĩa đệm ở một số vị trí dọc theo cột sống. 

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng khuynh hướng bị thoát vị đĩa đệm có thể tồn tại trong các gia đình có nhiều thành viên bị mắc bệnh này.

3. Các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc thoát vị đĩa đệm

  • Cân nặng: Trọng lượng cơ thể dư thừa gây thêm căng thẳng cho các đĩa đệm ở lưng dưới.
  • Nghề nghiệp: Những người làm việc nặng có nguy cơ mắc các vấn đề về lưng cao hơn. Lặp đi lặp lại các hoạt động nâng, kéo, đẩy, cúi người sang một bên và vặn người cũng có thể làm tăng nguy cơ bị thoát vị đĩa đệm.
  • Di truyền học: Một số người có khuynh hướng phát triển thoát vị đĩa đệm.
  • Hút thuốc: Người ta cho rằng hút thuốc làm giảm lượng oxy cung cấp cho đĩa đệm, khiến đĩa đệm bị hỏng nhanh hơn.

4. Triệu chứng

Tùy thuộc vào vị trí địa đệm thoát vị và độ di dịch thì sẽ có những triệu chứng khác nhau, bao gồm các triệu chứng sau:

  • Người bệnh sẽ cảm thấy không đau gì cả hoặc chỉ đau ở phần thắt lưng thì có thể đĩa đệm thoát vị không chèn ép vào dây thần kinh. 
  • Người bệnh sẽ bị tê, yếu ở vùng mà dây thần kinh bị chèn ép di chuyển đến. Thông thường, thoát vị đĩa đệm có trước một đợt đau thắt lưng hoặc có tiền sử đau thắt lưng từng cơn kéo dài.

4.1. Cột sống thắt lưng (lưng dưới) 

Hay còn gọi là đau thần kinh tọa thường do thoát vị đĩa đệm ở lưng dưới. Áp lực lên một hoặc một số dây thần kinh có thể góp phần gây đau dây thần kinh tọa, bỏng rát, ngứa ran và tê lan tỏa từ mông đến chân và đôi khi xuống chân. Thường thì một bên lưng đến chân sẽ bị ảnh hưởng.

Cơn đau này thường được mô tả là rõ rệt và giống như điện giật. Ở tư thế đứng, ngồi thì cơn đâu này có thể nặng hơn, đặc biệt khi duỗi thẳng chân ở nơi bị ảnh hưởng làm cho người bệnh đau như  muốn ” chết đi sống lại”.

4.2. Cột sống cổ (cổ) 

Bệnh đốt sống cổ là triệu chứng chèn ép dây thần kinh ở cổ, có thể bao gồm đau âm ỉ hoặc đau nhói ở cổ hoặc giữa các bả vai, đau lan xuống cánh tay đến bàn tay, cả ngón tay hoặc tê, ngứa ran vai hoặc cánh tay. Cơn đau có thể lan đến một số vị trí hoặc ảnh hưởng đến cử động của cổ.

5. Có phải thoát vị địa đệm thì bắt buộc phải phẫu thuật?

thoát vị đĩa đệm
Thoát vị đĩa đệm có cần phải phẫu thuật?

May mắn thay, phần lớn các đĩa đệm thoát vị không cần phẫu thuật. Theo thời gian, các triệu chứng của đau thần kinh tọa (bệnh căn nguyên) cải thiện ở khoảng 9 trên 10 người. Thời gian để cải thiện rất khác nhau, từ vài ngày đến vài tuần, tuỳ người.

Đối với những người vừa phát hiện, hạn chế các vận động trong 2 đến 3 ngày. Đi bộ vừa sức phối hợp với dùng thuốc chống viêm, chẳng hạn như ibuprofen, nếu không có chống chỉ định cho bệnh nhân. 

Chụp X-quang, chẳng hạn như MRI, không được khuyến cáo, trừ khi các triệu chứng đã xuất hiện và kéo dài trong sáu tuần.

Nên đi đến các bác sĩ chuyên khoa cột sống, chẳng hạn như bác sĩ giải phẫu thần kinh, nếu các triệu chứng kéo dài hơn bốn tuần. 

6. Kiểm tra và chẩn đoán

Trong các phương pháp kiểm tra được liệt kê dưới đây, phương pháp phổ biến nhất được sử dụng là MRI. Chụp X-quang vùng bị ảnh hưởng thường được sử dụng cho việc kiểm tra đốt sống. 

Lưu ý là thoát vị đĩa đệm không thể nhìn thấy trên phim chụp X-quang đơn thuần. Chụp CT và chụp tủy đồ thường được sử dụng trước khi chụp MRI, nhưng hiện nay bệnh nhân thường được chỉ định làm phương pháp chẩn đoán hình ảnh ban đầu, trừ khi có những trường hợp đặc biệt bắt buộc phải sử dụng. 

Điện cơ (EMG) không thường xuyên được sử dụng.

  • X-quang: Có thể cho thấy cấu trúc của đốt sống và đường viền của khớp. Chụp X-quang cột sống để tìm kiếm các nguyên nhân tiềm ẩn khác gây đau, tức là khối u, nhiễm trùng, gãy xương,…
  • Chụp CT hoặc CAT scan: Hình ảnh chẩn đoán được tạo ra sau khi máy tính đọc tia X; có thể cho thấy hình dạng và kích thước của ống sống, cấu trúc của nó và các cấu trúc xung quanh nó.
  • Chụp cộng hưởng từ (MRI): Một xét nghiệm chẩn đoán tạo ra hình ảnh 3D cấu trúc cơ thể nhờ lực hút nam châm mạnh kết hợp công nghệ máy tính. Chuẩn đoán này cho chúng ta thấy được tủy sống, rễ thần kinh và các vùng xung quanh như phì đại, thoái hóa và các khối u.
  • Myelogram: Chụp X-quang ống sống sau khi tiêm chất cản quang vào các khoang dịch não tủy xung quanh, phát hiện áp lực của tủy sống hoặc dây thần kinh do thoát vị đĩa đệm, gai xương hoặc khối u.
  • Điện cơ (EMG) và Nghiên cứu dẫn truyền thần kinh (NCS): được sử dụng như một công cụ để chẩn đoán các bệnh thần kinh cơ, hoặc là một công cụ nghiên cứu để nghiên cứu về kinesiology và rối loạn kiểm soát vận động. Nhưng nhiều bằng chứng cho thấy EMG hoặc NCS hữu ích trong chẩn đoán nguyên nhân đau thắt lưng, đau ngực hoặc đau cột sống cổ.

7. Điều trị 

Dựa vào tình trạng bệnh mà sẽ có những phương pháp điều trị khác nhau.

7.1. Điều trị không phẫu thuật

Điều trị ban đầu cho thoát vị đĩa đệm thường là không cần phải phẫu thuật. Người bệnh nên duy trì vận động mức thấp, không vận động hay làm việc quá mức.

Nếu cơn đâu ở mức trung bình sẽ điều trị bằng thuốc chống viêm không steroid . Steroid được tiêm ngoài màng cứng bằng cách sử dụng tia X để đưa thuốc đến chính xác vị trí thoát vị đĩa đệm.

Bác sĩ thường khuyến khích bệnh nhân sử dụng phương pháp vật lý trị liệu. Đối với từng bệnh nhân với từng mức độ của bệnh sẽ có những liệu pháp điều trị khác nhau.

thoát vị đĩa đệm
Sử dụng vật lý trị liệu để điều trị thoát vị đĩa đệm

Liệu pháp có thể bao gồm kéo vùng chậu, xoa bóp nhẹ nhàng, liệu pháp đá và nhiệt, siêu âm, kích thích cơ điện và các bài tập kéo căng. Thuốc giảm đau và thuốc giãn cơ cũng có thể hữu ích khi kết hợp với vật lý trị liệu.

7.2. Phẫu thuật

Bác sĩ có thể đề nghị thực hiện phẫu thuật nếu các phương pháp chẳng hạn như vật lý trị liệu và thuốc, không làm giảm hoặc chấm dứt hoàn toàn các cơn đau. 

Các bác sĩ sẽ thảo luận về các phương pháp phẫu thuật với bệnh nhân để xác định quy trình phù hợp. Như với bất kỳ cuộc phẫu thuật nào, tuổi của bệnh nhân, tình trạng sức khỏe và các vấn đề khác đều sẽ được xem xét.

Lợi ích của phẫu thuật nên được cân nhắc cẩn thận với các rủi ro của nó. Mặc dù một tỷ lệ lớn bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cho biết giảm đau đáng kể sau khi phẫu thuật, nhưng không có gì đảm bảo rằng mọi cuộc phẫu thuật sẽ thành công và bệnh nhân sẽ hết đau hoàn toàn sau phẫu thuật.

Một bệnh nhân có thể sẽ được chỉ định phẫu thuật cột sống nếu:

  • Đau dạng mụn nước làm hạn chế hoạt động bình thường hoặc làm giảm chất lượng cuộc sống
  • Thâm hụt thần kinh tiến triển phát triển, chẳng hạn như yếu chân và / hoặc tê
  • Mất chức năng bình thường của ruột và bàng quang
  • Khó khăn khi đứng hoặc đi bộ
  • Thuốc và vật lý trị liệu không hiệu quả
  • Bệnh nhân có sức khỏe khá tốt

7.2.1. Phẫu thuật cột sống thắt lưng

Phẫu thuật cắt bỏ lớp đệm thường được sử dụng để giảm đau chân và đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm. Nó được thực hiện thông qua một vết rạch nhỏ xuống giữa lưng trên khu vực đĩa đệm bị thoát vị. 

Trong quá trình này, một phần của lamina (lưới lót màng nhân) có thể được loại bỏ. Các cơ dưới vết rạch được kéo sang một bên tạm thời để bác sĩ phẫu thuật có thể nhìn thấy mặt sau của đốt sống. Một lỗ nhỏ được tạo ra giữa hai đốt sống để tiếp cận với đĩa đệm thoát vị. 

Sau khi đĩa đệm được lấy ra thông qua phẫu thuật cắt bỏ, cột sống cần được ổn định. Phẫu thuật nối đốt sống thường được thực hiện cùng với phẫu thuật cắt lớp đệm. Trong những trường hợp liên quan, phẫu thuật cắt lớp có thể được thực hiện.

7.2.2. Tạo đĩa đệm nhân tạo

thoát vị đĩa đệm
Đĩa đệm nhân tạo

Đối với phẫu thuật để tạo đĩa đệm nhân tạo, một vết rạch được thực hiện qua bụng, đĩa đệm bị thoái vị được lấy ra và thay thế. Chỉ một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân được chỉ định cho phẫu thuật tạo đĩa đệm nhân tạo. Thường sẽ rơi vào những trường hợp sau:

  • Bệnh nhân bị thoái hóa chỉ ở một đĩa đệm, là đĩa đệm nằm giữa L4 và L5, hoặc L5 và S1 (đốt sống xương cùng thứ nhất). 
  • Bệnh nhân phải trải qua ít nhất sáu tháng điều trị, chẳng hạn như các biện pháp vật lý trị liệu, uống thuốc giảm đau hoặc đeo nẹp lưng mà không thấy cải thiện. 
  • Bệnh nhân phải có sức khỏe tổng thể tốt, không có dấu hiệu nhiễm trùng, loãng xương hoặc viêm khớp. 

Nếu bị thoái hóa ảnh hưởng đến nhiều đĩa đệm hoặc đau chân nghiêm trọng, bệnh nhân sẽ không được chỉ định cho loại cho phẫu thuật này.

7.2.3. Phẫu thuật cột sống cổ

Các chỉ định thực hiện phẫu thuật từ phía trước cổ hoặc phía sau cổ được quyết định bởi vị trí chính xác của đĩa đệm thoát vị, cũng như kinh nghiệm và quyết định của bác sĩ phẫu thuật. 

Một phần của lớp màng có thể được loại bỏ thông qua phẫu thuật cắt lớp màng đệm, sau đó là loại bỏ thoát vị đĩa đệm theo phương pháp tiếp cận về phía sau cổ. Những bệnh nhân là đối tượng của phương pháp phẫu thuật này thường không cần kết hợp với phẫu thuật nối đốt sống. 

Đối với phẫu thuật phía trước cổ, sau khi đĩa đệm được lấy ra, cột sống cần được cố định. Điều này được thực hiện bằng cách sử dụng một nẹp cột sống cố định lại.

8. Phòng ngừa thoát vị đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệmrất dễ mắc phải do nhiều nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, vẫn có cách giúp ngăn ngừa thoát vị đĩa đệm ngay từ bây giờ, chỉ cần duy trì và thực hiện nghiêm túc các điều sau:

  • Tập thể dục: tăng cường các cơ ở thân làm ổn định và hỗ trợ cột sống.
  • Giữ tư thế chuẩn: điều này làm giảm áp lực lên cột sống và đĩa đệm của bạn. Giữ lưng luôn thẳng, đặc biệt là khi ngồi trong thời gian dài. Nâng vật nặng đúng cách, giảm áp lực cho lưng.
  • Duy trì cân nặng hợp lý: trọng lượng dư thừa gây áp lực nhiều hơn lên cột sống và đĩa đệm, khiến chúng dễ bị thoát vị.
  • Không hút thuốc.

Kết 

Bài viết trên đã chia sẻ những thông tin về bệnh thoát vị đĩa đệm, nguyên nhân, cách điều trị cũng như cách phòng ngừa căn bệnh này. Hy vọng nó sẽ giúp ích cho những ai đang mắc phải, có nguy cơ mắc hoặc muốn phòng ngừa căn bệnh này. Có sức khoẻ thì mới có hạnh phúc, hãy lắng nghe và quan tâm đến sức khỏe của bạn ngay từ bây giờ.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây