Thoái Hóa Đốt Sống Cổ Là Gì? Các Thông Tin Khác Về Nó

0
14
thoái hóa đốt sống cổ

Thoái hóa đốt sống cổ hiện nay là loại bệnh rất phổ biến. Tưởng như chỉ xuất hiện ở những người lớn tuổi. Nhưng hiện nay đã trẻ hóa hơn, do các bạn chủ quan và không đề phòng, phá sức khỏe của mình. Hy vọng qua bài viết này các bạn sẽ thấy nó nguy hiểm thế nào.

1. Thoái hóa đốt sống cổ là gì?

Thoái hóa đốt sống cổ là thuật ngữ bao gồm một loạt các thay đổi thoái hóa tiến triển ảnh hưởng đến tất cả các thành phần của cột sống cổ. Ví dụ liên quan đến đĩa đệm, khớp mặt, khớp Luschka,… Đó là một quá trình lão hóa tự nhiên và xuất hiện ở phần lớn mọi người sau thập kỷ thứ năm của cuộc đời.

Ở cột sống cổ, quá trình thoái hóa mãn tính này ảnh hưởng đến các đĩa đệm, các khớp mặt. Có thể tiến triển thành thoát vị đĩa đệm, thoái hóa thân đốt sống, chèn ép tủy sống hoặc bệnh lý tủy sống cổ. 

Các triệu chứng của thoái hóa đốt sống cổ biểu hiện là đau cổ, cứng cổ. Có thể kèm theo triệu chứng về mắt khi có sự chèn ép của các cấu trúc thần kinh. Đau cổ là tình trạng phổ biến thứ hai sau đau thắt lưng. Nó ảnh hưởng đến sức khỏe và tình trạng kinh tế rất nhiều. 

Tuy lão hóa là nguyên nhân chính, nhưng cũng đừng nên chủ quan. Nếu khi còn trẻ chúng ta không có cách phòng ngừa đúng cách cũng có thể mắc bệnh như thường.

thoái hóa đốt sống cổ
Các đốt sống cổ

2. Cơ chế bệnh lý của thoái hóa đốt sống cổ

2.1. Thông tin cơ bản

Tất cả những phát hiện khi bạn chụp X quang và các triệu chứng lâm sàng của bệnh thoái hóa đốt sống cổ. Có thể nói là hậu quả của quá trình thoái hóa đĩa đệm. Quá trình sinh hóa trong cơ thể sẽ bắt đầu thay đổi trước. Sau đó là một số thay đổi về cấu trúc có thể thấy trong bệnh thoái hóa. 

Nói cách khác, sự mất ổn định phân đoạn xảy ra do sự giảm khoảng cách đĩa đệm và sự giãn của bao khớp và dây chằng, flavum hypertrophy). Được thêm vào để gây hẹp ống sống, gây ra bệnh lý thần kinh hoặc bệnh lý tùy theo vùng dây thần kinh bị chèn ép.

Các thay đổi thoái hóa ở cột sống cổ gần giống như ở cột sống lưng và trải qua các quá trình tương tự. Đĩa đệm được cấu tạo chủ yếu bởi collagen, proteoglycan và nước. Collagen là một cấu trúc dạng phiến cho phép cột sống di chuyển theo nhiều hướng khác nhau và kết nối các đốt sống với nhau.

Proteoglycan có đặc tính thẩm thấu là hấp thụ nước và cung cấp áp suất turgor. Khi tuổi tác tăng lên, proteoglycan suy giảm, dẫn đến mất tính đàn hồi. Làm giảm hiệu quả phân bố đều tải trọng thẳng đứng. Trong nguyên bào sợi, phản ứng của tế bào với lực ép xảy ra, sự thay đổi của collagen cũng thay đổi.

Do đó collagen loại 2 được thay thế bằng collagen loại 1. Đôi lúc collagen loại 3 cũng xuất hiện, độ đàn hồi cũng sẽ giảm xuống.

2.2. Thông tin thêm về thoái hóa đốt sống cổ

Trong giai đoạn đầu của thoái hóa đốt sống cổ, đoạn cột sống trở nên không ổn định. Nếu chuyển động quá mức hoặc bất thường, có thể gây đau cổ và các cơn đau kèm theo ở vai và ngực trước do dây chằng và cơ bị căng. 

Theo thời gian, các chấn thương và căng thẳng lặp đi lặp lại làm cho vòng xơ suy yếu. Chiều cao của đĩa đệm ở đốt sống cổ chiếm khoảng 22% tổng số đốt sống cổ. Nó tạo thành một đường cong hoàn toàn giống như các đốt sống thắt lưng. Nên độ cong của các đốt sống cổ được duy trì.

Do đó, khi khoảng cách đĩa đệm bị giảm do sự thoái hóa, sẽ dần dần ảnh hưởng đến độ cong của các đốt sống cổ. Dẫn đến các cơn đau nguy cơ mắc thoái hóa đốt sống cổ cao.

3. Triệu chứng lâm sàng

3.1. Đau cổ 

Đau cổ là triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất ở bệnh nhân thoái hóa đốt sống cổ. Tuy nhiên đặc điểm của nó rất khó phát hiện. Đau hoặc có cảm giác nóng thường gặp ở các cơ sau cổ và có thể lan đến vùng chẩm, khớp vai và xung quanh xương bả vai.

Những triệu chứng này có thể thuyên giảm khi nghỉ ngơi, tinh thần không được căng thẳng quá mức. Nguyên nhân gây đau đầu ở các bệnh nhân thoái hóa đốt sống cổ chưa rõ ràng. Nhưng có thể do kích thích dây thần kinh chẩm lớn hơn hoặc do áp lực dây thần kinh trực tiếp do co thắt cơ.

Xác định vị trí đau có thể tìm ra được nguyên nhân mà bạn bị đau cổ. Đau cổ trước phân bố dọc theo cơ ức đòn chũm có khi là do bong gân cơ. Đau vùng cơ cơ cổ sau khi cúi đầu có khả năng là do đĩa đệm. Còn khi xoay sang một bên giữ vị trí một lúc mà thấy đau, cũng có khả năng là do đĩa đệm.

Bệnh nhân kêu đau ở vùng chẩm có thể có bất thường ở cột sống cổ trên. Trong trường hợp này có thể bị đau sau tai và đau lan xuống đốt sống cổ dưới. Việc xoay cổ cũng sẽ bị hạn chế phạm vi xoay.

Tổn thương ở khớp vai có thể kết hợp đau cổ. Cơn đau có thể lan ra cả cánh tay. Cần khám sức khỏe chi tiết khớp vai để phân biệt với đau do tổn thương ở cổ. Đau khớp cổ vai có thể liên quan đến các tổn thương ở tim, phổi, ruột.

thoái hóa đốt sống cổ
Đau cổ cũng là một nguyên nhân dẫn đến thoái hóa đốt sống cổ

3.2. Bệnh lý thần kinh

Nó cho thấy những bất thường về cảm giác, sức mạnh vận động suy yếu và những thay đổi trong phản xạ. Khi các rễ thần kinh trong cơ thể bị chèn ép, cơn đau có thể xuất hiện tương đối rộng. 

Nói cách khác, dù chỉ bị một rễ thần kinh nào chèn ép. Người bệnh thường có biểu hiện tê bì, đau nhức toàn bộ cánh tay. Các triệu chứng thần kinh cơ điển hình theo đoạn cổ bị xâm lấn là thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ thứ 4 và thứ 5.

Trong một số trường hợp thoái hóa đốt sống cổ, rễ thần kinh cơ số 5 thường bị chèn ép cơ nhị đầu cánh tay, khuỷu tay và cơ delta. Xuất hiện yếu cơ delta và phản xạ chính cơ nhị đầu giảm. 

Trong trường hợp đốt sống cổ thứ 5 và 6, rễ dây thần kinh cổ thứ 6 bị chèn ép. Xuất hiện dị cảm ở cẳng tay bên, ngón cái và các mặt sau của ngón trỏ và phản xạ chính của cơ nhị đầu bị giảm.

Trong trường hợp đốt sống cổ thứ 6 và thứ 7, cơ dây thần kinh cổ thứ 7 bị chèn ép. Cơ tam đầu và dị cảm của ngón giữa bị suy yếu sức mạnh. Trong trường hợp đốt sống cổ thứ 7 và đốt sống ngực thứ nhất. 

Rễ thần kinh cổ thứ 8 bị nén, đồng thời xảy ra bất thường về cảm giác của ngón tay thứ 4 và 5. Làm yếu cơ của cơ và cơ gấp.

3.3. Bệnh lý tủy

Bệnh lý tủy là một triệu chứng do tủy sống bị chèn ép. Có thể xuất hiện ở những bệnh nhân bị hẹp ống sống bẩm sinh kèm theo các biến đổi thoái hóa đốt sống cổ nặng. Nó cũng xảy ra bởi các triệu chứng ban đầu phổ biến nhất của bệnh thoái hóa đốt sống cổ là yếu cơ tay, dị cảm, đi lại khó khăn do yếu cơ chi dưới. 

Không giống như bệnh lý thần kinh, đau không phải là một triệu chứng phổ biến. Bệnh nhân thường sẽ khó khăn việc lấy đũa, thay quần áo, do trở ngại của vận động tinh của tay. Bàn tay sẽ là chìa khóa để các bác sĩ có thể dự đoán mắc bệnh lý tủy hay không. 

Thử nghiệm việc cầm và thả tay liên tục, người bệnh thường sẽ có động tác chậm hơn 20 lần sau mỗi 10 giây. Thường sẽ bị nghi ngờ rằng bàn tay đang bị u tủy. Ở những bệnh nhân bị chèn ép tủy sống ở cột sống cổ thứ 5 và 6 kèm theo thoái hóa đốt sống cổ thường xuyên. 

Thường bị chèn ép tủy sống cổ dưới, phản xạ của cơ hướng tâm cánh tay giảm và đồng thời tăng sự chèn ép cơ thần kinh thứ 6. Khả năng đi lại bị suy giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe trầm trọng.

4. Chẩn đoán

4.1. Phát hiện khoa học

Các triệu chứng như hạn chế cử động cổ, sức cơ yếu, giảm phản xạ, đi tiểu bất thường và hạn chế vận động vai có ý nghĩa chẩn đoán.

4.2. Chụp X quang đơn giản

Hẹp khoang đĩa đệm, thay đổi độ cong bình thường của cột sống cổ và hình thành các tế bào xương.

4.3. Chụp cắt lớp vi tính cột sống cổ (CT)

Vì mặt cắt ngang của khoang cột sống có thể được nhìn thấy. Nó cung cấp thông tin ba chiều về các cấu trúc xung quanh tất cả các tủy sống. Bao gồm đốt sống, hình dạng uốn cong của khoang đĩa đệm và sự phân hóa dây chằng sau.

4.4. Myelography

Mặc dù ưu điểm cho thấy rõ tủy sống và rễ thần kinh. Nhưng việc sử dụng chụp mạch tủy sống đang giảm đi nhanh chóng do bất lợi của việc tiêm chất cản quang.

4.5. Điện cơ (EMG)

Trong trường hợp tổn thương thần kinh cơ, nó cho kết quả chính xác khoảng 85%. Nó giúp ích trong việc phân biệt giữa tổn thương tủy sống và tổn thương thần kinh chèn ép rễ thần kinh do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. 

Trong giai đoạn cấp tính, sử dụng phương pháp này thì các phát hiện bất thường không xuất hiện. Chỉ 3 tuần sau khi khởi phát mới có thể chẩn đoán ra được xem có bị thoái hóa đốt sống cổ không.

4.6. Phương pháp MRI

Nó thể hiện rõ tình trạng toàn bộ cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm và những biến đổi của tủy sống. Nó là công cụ chẩn đoán quan trọng nhất để chẩn đoán thoát vị đĩa đệm cột sống cổ và hẹp ống sống cổ.

5. Chữa khỏi

5.1. Liệu pháp vi phẫu bảo tồn

Ổn định để giảm đau và co cứng cơ, cố định tại chỗ bằng nẹp. Chườm lạnh hoặc ấm và dùng thuốc giảm đau chống viêm có thể hữu ích. Tư thế của cổ được khuyến khích để bệnh nhân có tư thế thoải mái nhất. 

thoái hóa đốt sống cổ
Nẹp cổ

5.2. Điều trị phẫu thuật

Nếu các triệu chứng chèn ép rễ thần kinh và tủy sống tăng lên mặc dù đã điều trị vi phẫu bảo tồn. Thì lúc này bạn nên cân nhắc đến chuyện điều trị bằng phẫu thuật. Tuy nhiên bệnh thoái hóa đốt sống cổ là do nhiều yếu tố phức tạp như trình bày ở trên. 

Diễn biến của bệnh cũng rất đa dạng nên rất khó xác định thời điểm và phương pháp phẫu thuật thích hợp. Liệu pháp phẫu thuật có thể tiến hành trước hoặc sau tùy vào vùng bị chèn ép, triệu chứng và đoạn cột sống bị ảnh hưởng.

Trong trường hợp chỉ có các triệu chứng thần kinh cơ, phẫu thuật tổng quát bao gồm cắt bỏ đĩa đệm phía trước. Loại bỏ các tế bào xương và hợp nhất đốt sống. Phương pháp nong trước cột sống cổ là một phẫu thuật tương đối an toàn. Có ưu điểm là có loại bỏ chèn ép dây thần kinh. Khả năng phục hồi cao sau khi phẫu thuật.

thoái hóa đốt sống cổ
Điều trị bằng phẫu thuật

Phần kết

Bị thoái hóa đốt sống cổ là bệnh sẽ khiến bạn cảm thấy khó chịu, không còn một chút sức lực nào. Nên từ bây giờ bạn nên có những biện pháp phòng chống, đừng để bị bệnh rồi mới hối hận. Sức khỏe là vàng bạc, nên hi vọng mọi người sẽ giữ sức khỏe của mình luôn tốt.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây